Sách chữa lành ( healing) - Thiền sư và em bé 5 tuổi

Phần 3: Những bài tập trị liệu

Bốn hơi thở tiếp theo: Quán chiếu cảm thọ

  Với bốn hơi thở kế tiếp này chúng ta đi sang lĩnh vực cảm thọ. Một khi chúng ta đã thành công trong việc làm lắng dịu và buông thư thân thể, chúng ta có thể quay sang lĩnh vực cảm thọ.

  Hơi thở thứ năm là chế tác niềm vui ( hỷ)

 " Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.

  Thở ra, tôi cảm thấy mừng vui."

  Là một hành giả, chúng ta phải có khả năng đem niềm vui đến cho tự thân ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Càng có chánh niệm và chánh định, chúng ta càng có hạnh phúc an vui.

  Sự thực tập đầu tiên để mang đến niềm vui là buông bỏ ( ly sinh hỷ lạc). Để có được niềm vui, chúng ta phải có khả năng buông bỏ. Chúng ta thường nghĩ rằng niềm vui là cái ở bên ngoài ta, ta phải chạy theo để đạt cho được. Nhưng nếu ta biết cách nhận diện những khó khăn, chướng ngại đang có mặt trong ta và buông bỏ chúng thì niềm vui sẽ đến với chúng ta một cách rất tự nhiên.

  Hơi thở thứ sau là chế tác hạnh phúc, an lạc.

  " Thở vào, tôi cảm thấy an lạc.

  Thở ra, tôi cảm thấy an lạc."

  Thực tập những bài tập này có thể mang đến cho chúng ta hạnh phúc, an lạc. Thực tập chánh niệm và làm lắng dịu những căng thẳng là suối nguồn của hạnh phúc. Chánh niệm giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà ta đang có sẵn. Vì vậy mang lại niềm an vui và hạnh phúc là điều rất dễ dàng. Chúng ta có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi.

  Trong truyền thống nhà thiền, thiền tập được xem như là một loại thức ăn, " thiền duyệt vi thực", nghĩa là niềm an vui hạnh phúc của thiền tập là thức ăn hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể được nuôi dưỡng và trị liệu bằng thiền tập.

  Hơi thở thứ bảy là xử lý khổ đau và những cảm xúc đang có mặt trong ta.

  " Thở vào, tôi ý thức về những hoạt động tâm ý trong tôi.

  Thở ra, tôi ý thức về những hoạt động tâm ý trong tôi."

 Bài tập này giúp chúng ta học cách xử lý năng lượng đau khổ, buồn rầu, sợ hãi, tức giận trong ta. Chúng ta thực tập hơi thở chánh niệm, đi thiền hành để chế tác năng lượng niệm và định. Với năng lượng niệm định này, chúng ta có thể nhận diện và ôm ấp những cảm thọ khổ đau đang có mặt trong ta. Chúng ta không nên khỏa lấp nỗi khổ niềm đau của mình, trái lại ta phải chăm sóc nó. Chạy trốn hay đè nén khổ đau là chúng ta đang đối xử bạo động với bản thân mình. Chánh niệm cũng là mình mà khổ đau cũng chính là mình. Chúng ta không nên đánh nhau với chính mình. Đây là tuệ giác bất nhị.

  Khi chúng ta tránh né, không chịu trở về với bản thân mình là chúng ta đang cho phép những nỗi khổ đau trong ta lớn lên. Phương pháp mà Bụt đề nghị là trở về chăm sóc. Chúng ta cần một ít niệm định. Chúng ta phải có khả năng chế tác niệm định để chúng ta đủ vững chãi mà không bị ngụp lặn trong những nỗi khổ niềm đau của mình, và với năng lượng niệm định chúng ta có thể tự tin trở về với bản thân và nhận diện những cảm thọ khổ đau ấy. " Thở vào, tôi nhận diện những cảm thọ khổ đau đang có trong tôi. thở ra, tôi ôm ấp những cảm thọ khổ đau trong tôi". Đây là sự thực tập đích thực. Là một hành giả, ta phải có khả năng nhận diện nỗi khổ đau của mình và ôm ấp nó một cách nhẹ nhành như một bà mẹ đang ôm ấp đứa con của mình. Thỉnh thoảng trong khi thực tập ta gặp một vài khó khăn nào đó, đặc biệt là lúc mới bắt đầu. Tuy nhiên, năng lượng tập thể của tăng thân sẽ giúp chúng ta đi qua những khó khăn đó.

  Hơi thở thứ tám là buông bỏ căng thẳng và làm lắng dịu cảm xúc.

 " Thở vảo, tôi làm cho những hoạt động tâm ý trong tôi được an tịnh.

  Thở ra, tôi làm cho những hoạt động tâm ý trong tôi được an tịnh."

  Với hơi thở thứ bảy và thứ tám, chúng ta sử dụng chánh niệm để ôm ấp và làm vơi nhẹ nỗi khổ đau trong ta. Bài tập này cũng tương tự như thực tập về lĩnh vực thân thể. Chúng ta trở về với những cảm thọ, nhận diện và ôm ấp chúng một cách nhẹ nhàng. " Thở vào, tôi ý thức về những cảm thọ khổ đau trong tôi". Với những bước chân thiền hành và hơi thở chánh niệm liên tục, chúng ta có thể ôm ấp và xoa dịu những cảm thọ khổ đau của ta. Sau đó, nhờ thực tập nhìn sâu, chúng ta sẽ khám phá ra được bản chất của những phiền não mà ta đang có, giúp ta đạt được tuệ giác và vượt thoát những phiền não đó. Chỉ cần ôm ấp nỗi khổ niềm đau một cách chánh niệm dịu dàng, thì nỗi khổ niềm đau của ta cũng đã vơi nhẹ đi phần nào.

Bốn hơi thở kế tiếp: Quán chiếu về tâm thức

  Với hơi thở thứ chín, chúng ta đi đến những tâm hành khác. Cảm thọ chỉ là một trong những tâm hành thôi. Hành ( samskara) là một thuật ngữ chỉ cho nhiều điều kiện kết hợp lại với nhau để cho một sự vật hay một hiện tượng biểu hiện. Những hiện tượng tồn tại trong tâm ý gọi là tâm hành. Có những tâm hành thiện và cũng có tâm hành bất thiện.

  Hơi thở thứ chín là ý thức về tâm ý và nhận diện tình trạng tâm ý của chúng ta, cũng giống như bài tập hơi thở thứ ba là ý thức về thân thể và hơi thở thứ bảy là ý thức về cảm thọ.

  " Thở vào, tôi ý thức về tâm ý trong tôi.

  Thở ra, tôi ý thức về tâm ý trong tôi."

  Chúng ta ý thức hơn về tất cả những tâm hành đang biểu hiện trong ta. " Thở vào, tôi ý thức về những tâm hành đang có trong tôi". Tâm thức là một dòng sông và mỗi tâm hành là một giọt nước trong dòng sông ấy. Chúng ta ngồi trên bờ sông và quan sát sự đến đi của mỗi tâm hành. Chúng ta không cần phải đánh nhau, không cần phải nắm bắt hay xua đuổi những tâm hành của mình. Chúng ta chỉ cần điềm tĩnh nhận diện chúng, mỉm cười với chúng, bất kể là chúng dễ chịu hay khó chịu. Khi cơn giận xuất hiện trong ta, ta thực tập: " Thở vào, tôi biết tâm hành giận dữ đang có trong tôi". Khi có tâm hành nghi kỵ trong ta, chúng ta cũng thở vào và nhận diện tâm hành nghi kỵ đang có trong ta. Chúng ta là người thực tập đồng thời cũng là người quan sát. Chúng ta cần niệm định để nhận diện tất cả các tâm hành. Kế đó, chúng ta có thể nhìn sâu vào bản chất của các tâm hành ấy.

  Hơi thở thứ mười là làm cho tâm ý được hoan lạc, hạnh phúc.

  " Thở vào, tôi làm cho tâm ý tôi được hoan lạc.

    Thở ra, tôi làm cho tâm ý tôi được hoan lạc."

  Chúng ta làm cho tâm ý hoan lạc, hạnh phúc là để cho tâm ý lớn mạnh, vững chãi, can trường và đầy sinh lực. Khi chúng ta giúp cho tâm có nhiều an lạc, nhiều năng lượng thì tâm sẽ cho ta sức mạnh để ôm ấp và nhìn sâu vào những khó khăn của chúng ta. Nếu biết được cách vận hành của tâm thì chúng ta sẽ dễ dàng thực tập hơi thở thứ mười hơn. Thực tập tứ chánh cần cũng giúp ý thức về tâm ý và cho phép những hạt giống tiêu cực trong ta có cơ hội nghỉ ngơi.

  Sự thực tập đầu tiên của tứ chánh cần là để cho những hạt giống tiêu cực ngủ yên trong tàng thức và không cho chúng cơ hội biểu hiện. Nếu chúng biểu hiện thường xuyên, chúng sẽ lớn mạnh hơn. Sự thực tập thứ hai là khi hạt giống tiêu cực biểu hiện, chúng ta giúp nó trở về tàng thức càng sớm càng tốt. Nếu nó biểu hiện quá lâu, chúng ta sẽ khổ đau, và gốc rễ của hạt giống đó sẽ trở nên mạnh mẽ, kiên cố hơn. Sự thực tập thứ ba là thay thế tâm hành tiêu cực bằng tâm hành tích cực. Chúng ta chuyển sự chú tâm của ta đến đối tượng khác. Ta gọi đó là " thay chốt". Khi cái chốt nối hai thanh gỗ đã bị mục nát, người thợ mộc sẽ đóng một cái chốt mới vào cái lỗ nối hai thanh gỗ ấy để đẩy cái chốt cũ ra. Cũng như thế, ta phải tưới tẩm hạt giống tốt thường xuyên. Sự thực tập thứ tư là khi một tâm hành tốt biểu hiện, chúng ta cố gắng duy trì càng lâu càng tốt. Giống như khi có một người bạn thân quý đến thăm làm cho cả nhà vui vẻ thì ta muốn mời người ấy ở lại chơi lâu hơn. Chúng ta cũng có thể giúp người khác thay đổi những tâm hành của họ. Nếu những suy nghĩ tối tăm, giận dữ, sợ hãi biểu hiện nơi người đó, chúng ta có thể thực tập tưới tẩm những hạt giống tốt nơi họ để những hạt giống tốt biểu hiện, thay thế cho những tâm hành tiêu cực kia. Chúng ta gọi sự thực tập này là " tưới tẩm có chọn lọc". Chúng ta có thể tổ chức đời sống của mình theo cách để những hạt giống tích cực được chạm đến được tưới tẩm vài lần trong ngày.

  Hơi thở thứ mười một là thu nhiếp tâm ý vào định để đạt được tuệ giác.

  " Thở vào, tôi thu nhiếp tâm ý tôi vào định. 

  Thở ra, tôi thu nhiếp tâm ý tôi vào định."

  Định có sức mạnh đốt chạy phiền não. Giống như cái thấu kính hội tụ khi chiếu ánh sáng mặt trời vào đủ lâu thì nó có thể đốt cháy mảnh giấy. Khi định có khả năng đốt cháy hết mọi phiền não thì trí tuệ phát sinh. Bụt dạy cho chúng ta rất nhiều cách thực tập để chế tác định. Vô thường, vô ngã, tánh không là các loại định mà chúng ta có thể thực tập hằng ngày. Ví dụ như bất cứ điều gì ta tiếp xúc trong ngày, có thể là một người bạn, một bông hoa hay một đám mây, chúng ta có thể thực tập để thấy được tự tính vô thường, vô ngã và tương tức trong ấy.

  Hơi thở thứ mười hai là cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do.

  " Thở vào, tôi cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do.

   Thở ra, tôi cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do."

  Chúng ta cần sức mạnh của định để cắt đứt những khối phiền não như buồn rầu, sợ hãi, giận dữ, phân biệt đang ràng buộc, cột chặt tâm ý ta. Giáo lý vô thường cũng chỉ là một ý niệm, tuy nhiên ta có thể sử dụng nó như một phương tiện để làm phát khởi tuệ giác vô thường. Que diêm có thể tạo ra lửa. Và khi có lửa thì ngọn lửa sẽ đốt cháy que diêm. Cái mà chúng ta cần để đạt được giải thoát tự do là tự giác vô thường. Khi đã có tuệ giác rồi thì tuệ giác sẽ đốt cháy ý niệm. Chúng ta thực tập định vô thường là để làm phát khởi tuệ giác vô thường. Trong khi ngồi thiền, đi thiền hay làm những công việc hằng ngày, chúng ta định tâm trên tự tính vô thường. Định ( Samadhi) có nghĩa là duy trì ý thức liên tục từ giây phút này sang giây phút khác, càng lâu càng tốt. Chỉ có định mới có khả năng mang đến tuệ giác và giúp ta giải thoát tự do.

  Giả sử ta sắp sửa cãi nhau với một ai đó. Và nỗi đau khổ đang khởi phát trong ta, tâm ta không được tự do. Định về vô thường sẽ giải phóng cho ta và người kia ra khỏi sự tức giận. " Thở vào, trong ba trăm năm nữa, tôi đâu và người thương của tôi đâu?". Chỉ cần một hơi thở vào là ta đã có thể tiếp xúc được với thực tại vô thường. " Thở vào tôi biết tôi vẫn còn sống và người kia vẫn còn sống". Khi chúng ta mở mắt ra, điều duy nhất mà chúng ta muốn làm là ôm lấy người kia vào lòng. " Thở vào, bạn vẫn còn sống đây, tôi rất hạnh phúc". Đó là sự giải thoát nhờ tuệ giác vô thường. Nếu chúng ta ở trong tuệ giác vô thường, chúng ta sẽ ứng xử với người kia đầy trí tuệ. Chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì có thể để người kia hạnh phúc. Chúng ta không đợi ngày mai mới thực hiện, bởi vì ngày mai có thể sẽ quá muộn. Nhiều người đã phải khóc rất nhiều khi người thương của mình qua đời. Đó là do họ đã không hành xử tốt với người thương của họ khi người thương của họ còn sống. Chính mặc cảm tội lỗi ấy làm cho họ đau khổ. Sở dĩ như vậy là bởi vì họ đã không có tuệ giác vô thường. Vô thường là một loại định mà chúng ta có thể thực tập.

Trích từ sách Thiền sư và em bé 5 tuổi của Thầy Thích Nhất Hạnh

Thiền sinh và em bé 5 tuổi

# Sách thiền sư và em bé 5 tuổi, #sách chữa lành, # Chữa lành em bé bên trong, # healing, # Chữa lành tổn thương, # Chữa lành trầm cảm, # Sách Thích Nhất Hạnh, # Tổn thương cần chữa lành, # Chữa lành tâm hồn. # lắng nghe, # thiền tập.