Sách chữa lành ( healing) - Thiền sư và em bé 5 tuổi
PHẦN 1:
PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU
Giới thiệu thức mạt na
Một trong những lý do ta trốn tránh em bé bên trong mình là do ta sợ khổ đau. Giữa tàng thức và ý thức có một thứ gọi là mạt na thức. Mạt na thức này khiến chúng ta đi tìm kiếm dục lạc và trốn tránh khổ đau. Mạt na là nền tảng của niềm tin hão huyền rằng chúng ta có một cái ngã riêng biệt. Chúng ta khổ đau bởi vì sự phân biệt và ảo tưởng trong thức mạt na.
Khi con cá thấy một miếng mồi hấp dẫn, nó có khuynh hướng muốn đớp miếng mồi đó. Nó không biết rằng trong miếng mồi ấy có một cái móc câu được giấu trong đó và nếu nó đớp miếng mồi ấy nó sẽ bị cắn câu và bị kéo ra khỏi mặt nước. Với chánh niệm, chúng ta có thể ý thức về sự nguy hại của việc đi tìm kiếm dục lạc. Chúng ta có thể khám phá ra hạt giống tuệ giác ở trong tàng thức để giúp mạt na chuyển hóa. Đây là công việc của ý thức.
Sáu đặc tính của mạt na
Mạt na có nhiều khuynh hướng.
Thứ nhất là nó luôn thích thú đi tìm kiếm dục lạc. Thứ hai là cố trốn tránh khổ đau. Thứ ba là mạt na không biết sự nguy hiểm của việc tìm kiếm dục lạc. Chạy theo dục lạc có thể hủy hoại thân tâm mình. Nếu nhìn sâu vào đối tượng tham đắm, chúng ta có thể thấy được mối nguy hiểm này.
Đặc tính thứ tư của mạn na là không thấy được mặt tốt của khổ đau. Mỗi người trong chúng ta đều cần một liều lượng khổ đau nào đó để lớn lên, để chế tác hiểu biết thương yêu và vun trồng niềm an vui hạnh phúc. Hỷ và lạc của chúng ta chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng khổ đau.
Nếu không có khổ đau từ chiến tranh, chúng ta sẽ không có khả năng trân quý hòa bình. Nếu chúng ta chưa từng khổ vì đói, chúng ta sẽ không trân quý một cách trọn vẹn miếng bánh mì ta đang cầm trên tay. Có cái gì đó để ăn là một điều rất mầu nhiệm. Niềm hạnh phúc này chỉ có được khi ta biết đói là gì.
Trong cuộc đời của ta, ta đã từng trải qua những giây phút rất nguy hiểm. Khi nghĩ về những giây phút nguy hiểm ấy ta trân quý hơn sự an toàn này trong giây phút này. Nhờ có khổ đau mà ta học được bài học hiểu biết và thương yêu. Nhờ tiếp xúc với nỗi khổ đau, hiểu được nỗi khổ đau mà tình thương trong ta phát khởi.
Tôi không muốn gởi bạn bè, con cháu và đệ tử của tôi tới một nơi không có khổ đau, bởi vì những nơi như thế, ta không có cơ hội để học cách chế tác hiểu biết và thương yêu. Bụt nói rằng nếu không có khổ đau thì không có cách nào để học hỏi cả. Sở dĩ Bụt giác ngộ toàn vẹn là vì ngài khổ đau nhiều. Mình phải đến với Bụt bằng tất cả những nỗi khổ đau của mình. Khổ đau là con đường. Chính vì trải qua những khổ đau mà ta có thể thấy được con đường giải thoát, thương yêu và từ bi. Chính vì nhìn sâu vào bản chất của nỗi buồn phiền, khổ đau, mà ta khám phá ra được con đường để đi ra. Nếu không biết khổ đau là gì thì ta không có cách nào để đến với Bụt, không có cơ hội nếm được an lạc và tình thương yêu. chính vì nhờ ta có khổ đau mà bây giờ ta nhận ra được con đường đưa đến giải thoát, hiểu biết và thương yêu.
Trong mỗi chúng ta ai cũng có khuynh hướng chạy trốn khổ đau. Chúng ta nghĩ rằng đi tìm kiếm khoái lạc sẽ giúp chúng ta tránh được khổ đau. Nhưng kỳ thực không phải vậy. Nó sẽ làm ta cằn cỗi không lớn lên được, và hạnh phúc của ta cũng héo mòn theo. Hạnh phúc không thể có được nếu không có sự hiểu biết, lòng từ bi và tình thương yêu. Tình thương cũng không thể có được nếu ta không hiểu được nỗi khổ đau của ta và của người khác. Tiếp xúc với nỗi khổ đau giúp ta vun trồng hiểu biết và tình thương. Không có hiểu biết và thương yêu chúng ta không thể hạnh phúc được và chúng ta cũng không thể làm cho người khác hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều có hạt giống từ bi, tha thứ, bao dung, an vui và không sợ hãi. Nếu chúng ta liên tục trốn tránh khổ đau thì không có cách nào cho những hạt giống ấy lớn lên được.
Ở xóm thượng, Làng Mai có một hồ sen. Chúng ta biết rằng sen không thể lớn lên được nếu không có bùn. Chúng ta cần bùn để có sen. Chúng ta không thể trồng sen trên cảm thạch. Bùn đóng một vai trò quan trọng trong việc cho ra những bông sen. Khổ đau cũng vậy, cũng đóng một vai trò quan trọng để phát khởi hiểu biết và từ bi.
Ôm ấp khổ đau và nhìn sâu vào nó, chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều. Khi hạt giống sợ hãi từ trong chiều sâu tàng thức biểu hiện lên mặt ý thức thì sự thực tập của ta là mời chánh niệm cùng đi lên. Chánh niệm giúp ta có mặt thật sự để nhận diện và ôm ấp nỗi khổ đau mà không chạy trốn nó. Ban đầu có thể chánh niệm của ta không đủ mạnh để ôm ấp nỗi buồn khổ, đau đớn trong ta. Nhưng khi thực tập, đặc biệt là khi có tăng thân nâng đỡ, chánh niệm của ta sẽ lớn lên đủ mạnh, và ta sẽ ôm ấp được nỗi buồn khổ, đớn đau và sợ hãi.
Mỗi chúng ta đều cần một liều lượng khổ đau nào đó để vun trồng hiểu biết và thương yêu. Nhưng chúng ta không cần phải tạo thêm khổ đau nữa. Chúng ta đã có quá nhiều khổ đau trong ta và chung quanh ta rồi. ý thức có khả năng học hỏi bằng cách quan sát nỗi khổ đau và chuyền tải sự hiểu biết này đến tàng thức.
Đặc tính thứ năm của mạt na là không biết chừng mực. Ý thức phải nhắc mạt na về tuệ giác chừng mực này. Với hơi thở chánh niệm, ta có thể giúp cho ý thức nhìn sâu, nhận diện mạt na với tất cả sự vô minh của nó và nhận ra rằng trong tàng thức có hạt giống tuệ giác. Khi ý thức thực tập định thì đối tượng của định là tương tức, tương duyên và vô phân biệt. Nếu ý thức tập trung vào những đối tượng này thì tuệ giác sẽ phát khởi một cách nhanh chóng, đáng ngạc nhiên.
Đặc tính thứ sáu của mạt na là luôn luôn tìm cách nắm gữ, chiếm giữ những gì nó muốn. Tham đắm là sự thôi thúc mạnh nhất. Vì nó mà trong ta đầy dẫy sự ganh tị, ta cố chiễm hữu những người ta thương, những vật ta muốn. Nhưng với tuệ giác tương tức, ta sẽ thấy không có gì để sở hữu cả.
Chuyển hóa mạt na
Nhờ chánh niệm, chúng ta có thể chuyển hóa được mạt na. Với hơi thở chánh niệm, ta có thể giúp cho ý thức nhìn sâu và nhận diện mạt na với tất cả sự vô minh của nó, đồng thời nhận ra rằng trong tàng thức có hạt giống tuệ giác. Khi mạt na được chuyển hóa thì nó sẽ trở thành vô phân biệt trí ( trí tuệ không phân biệt, nirvikalpa-jnana).
Có một câu chuyện diễn tả về vô phân biệt trí rất hay. Đó là câu chuyện của một hạt muối muốn biết độ mặn của nước biển như thế nào. Hạt muối nói: " Tôi là hạt muối, tôi rất mặn. Tôi tự hỏi liệu nước biển có mặn như tôi không?". Một vị thầy đến bên hạt muối và trả lơi: " Này hạt muối, cách duy nhất mà con muốn biết nước biển thật sự mặn như thế nào là con phải nhảy xuống biển". Hạt muối nhảy xuống hòa vào nước biển và trở thành một với nước biển. Nó hoàn toàn hiểu được nước biển mặn như thế nào.
Chỉ khi nào mình là một với người đó, vật đó, mình mới hiểu được người đó, vật đó một cách trọn vẹn. Trong tiếng pháp, từ comprendre nghĩa là hiểu. Nghĩa đen của nó là cầm một vật gì lên và trở thành một với nó. Nếu còn tách biệt thì chúng ta đừng mong là hiểu được nó.
Thiền tập là khi nhìn vào thực tại ta không thấy có ranh giới giữa chủ thể và đối tượng. Chúng ta phải lấy đi cái ranh giới đó, ranh giới giữa người quán chiếu và đối tượng được quán chiếu. Nếu muốn hiểu một người nào, ta phải đặt mình là chính con người đó. Để cho bạn bè và những người thương trong gia đình hiểu được nhau thì họ phải là nhau. Cách duy nhất để hiểu trọn vẹn là ta phải trở thành một với đối tượng cần được hiểu. Để hiểu đúng, chúng ta phải phá vỡ rào cản giữa đối tượng hiểu và chủ thể hiểu.
Giả sử ta cho ai đó một vật gì thì với tuệ giác vô phân biệt ta sẽ thấy rằng không có người cho và không có người nhận. Nếu ta vẫn còn nghĩ ta là người cho và người kia là người nhận thì đó chưa thật sự là cho. Ta cho là bởi vì người kia đang cần thứ mà ta đang cho và ta cho một cách rất tự nhiên. Nếu thực sự thực hành hạnh bố thí, ta sẽ không nói ' nó không có biết ơn gì cả'. Ta không có những ý niệm như vậy.
Thực hành chánh niệm, ta sẽ nhận ra được sự có mặt của thức mạt na trong ta. Nếu ý thức được khuynh hướng của mạt na thì ta có thể sử dụng niệm, định, tuệ để chuyển hóa những khuynh hướng ấy và nuôi dưỡng tuệ giác vô phân biệt. Ta không chạy trốn khổ đau, trái lại ta nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nó, như thể khổ đau bắt đầu chuyển hóa, và giải thoát giác ngộ sẽ hiển lộ.
Trong đời sống của mình, chúng ta phải có khả năng biết được những gì ta cần cho hạnh phúc của ta. Chúng ta cũng cần biết được những nhu yếu của mọi người trong gia đình, trong cộng đồng và xã hội. Khi biết được những nhu yếu đó, ta biết là ta nên làm gì. Ta có mục đích và bây giờ ta hành động, ta có thể cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, quyền dân chủ, tự do cho con người. Khi có mục đích, ta xác định rõ hành động của mình, công việc mà ta làm là giúp xã hội đi về hướng tích cực. Để xác định hành động của mình tốt hay xấu, thiện hay ác, chúng ta phải xem thử là hành động đó có hướng tới tầm nhìn tối hậu hay không.
Trích từ sách Thiền sư và em bé 5 tuổi của Thầy Thích Nhất Hạnh

# Sách thiền sư và em bé 5 tuổi, #sách chữa lành, # Chữa lành em bé bên trong, # healing, # Chữa lành tổn thương, # Chữa lành trầm cảm, # Sách Thích Nhất Hạnh, # Tổn thương cần chữa lành, # Chữa lành tâm hồn