Sách chữa lành ( healing) - Thiền sư và em bé 5 tuổi

Phần 3: Những bài tập trị liệu

Bốn hơi thở cuối cùng: Quán chiếu về đối tượng tâm ý ( tri giác) 

  Bây giờ chúng ta bước sang một lĩnh vực khác, đó là đối tượng của tâm ý. Trong đạo Bụt, thế giới và tất cả mọi hiện tượng đều được coi là những đối tượng của tâm ý chứ không phải là những thực tại khách quan nằm ngoài ta. Chúng ta thường bị kẹt vào cái ý niệm rằng có một thế giới khách quan bên ngoài ta và có một cái thức bên trong ta muốn cố gắng hiểu về cái thế giới khách quan bên ngoài đó; chính điều này đã ảnh hưởng đến tri giác của chúng ta. Dưới ánh sáng của trương tức thì chủ thể và đối tượng không thể tồn tại biệt lập. Khi chúng ta nhận thức về một thứ gì đó thì đối tượng nhận thức luôn luôn biểu hiện đồng thời với chủ thể nhận thức. Ý thức luôn có nghĩa là ý thức về một cái gì đó.

  Hơi thở thứ mười ba là quán chiếu về tính vô thường.

  " Thở vào, tôi quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp.

     Thở ra, tôi quán chiếu về tính vô thường của vạn pháp."

  Chúng ta đã đồng ý rằng mọi vật đều vô thường, nhưng chúng ta vẫn sống và hành xử như thể chúng ta mãi mãi thường hằng, bất biến, không hề thay đổi, vẫn mãi như chúng ta bây giờ. Thực tế là mọi thứ đang thay đổi trong từng giây từng phút. Khi chúng ta ở với một người nào đó, hay ngồi chơi với ai đó, có thể chúng ta đang tiếp xúc với người đó cách đây hai mươi năm. Chúng ta không có khả năng tiếp xúc với người đó ngay trong giây phút hiện tại. Người đó thực chất bây giờ đã có những suy nghĩ khác và cảm xúc khác, không còn như xưa nữa. Chúng ta không thực sự tiếp xúc được với sự thật vô thường. Cho nên chúng ta phải sử dụng ý thức để quán chiếu về vô thường, và tuệ giác này sẽ giải phóng cho chúng ta được tự do.

  Vô thường chính là một loại định. Đi sâu vào vô thường chúng ta sẽ khám phá ra vô ngã, tánh không và tương tức. Vì thế vô thường đại diện cho tất cả các định. Trong khi thở vào chúng ta duy trì định vô thường, khi thở ra chúng ta cũng duy trì định vô thường cho đến khi chúng ta chọc thủng được màn vô minh và tiếp xúc được với trái tim thực tại. Đối tượng quan sát của chúng ta có thể là một bông hoa, một hòn sỏi, người thương của ta, hay là người ta ghét bỏ, hoặc cũng có thể là những nỗi khổ đau buồn tủi của ta. Tất cả đều có thể là đối tượng để ta quán chiếu, và ta phải tiếp xúc được với tự tính vô thường bên trong mỗi đối tượng đó.

  Hơi thở thứ mười bốn là quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.

  " Thở vào, tôi quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp.

    Thở ra, tôi quán chiếu về tính không đáng tham cầu và vướng mắc của vạn pháp."

  Chúng ta đã biết thức thứ bảy, mạt na, luôn luôn đi tìm cầu dục lạc và không thấy được những hiểm nguy của việc tìm cầu dục lạc. Quán chiếu về vô thường sẽ giúp cho thức mạt na chuyển hóa. Chúng ta nhìn sâu vào đối tượng tham muốn để thấy được bản chất đích thực của nó. Đối tượng mà ta đang tham muốn có thể làm hủy hoại thân tâm của chúng ta. ý thức về những thứ ta đang tham muốn và những thứ ta đang tiêu thụ là một sự thực tập rất quan trọng.

  Bụt dạy chúng ta về bốn loại thức ăn mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Đầu tiên là tư niệm thực, là ước muốn lớn lao nhất đời ta, cho ta sinh lực để sống. Chúng ta phải nhìn vào bản chất của những ước muốn ta đang mong cầu để thấy được liệu có nó thực sự tốt cho chúng ta hay không. Mong ước của chúng ta có thể là việc đi tìm kiếm dục lạc, điều này có thể rất nguy hiểm. Mong ước của ta cũng có thể là mong muốn trả thù và trừng phạt. Những ước muốn bất thiện này về bản chất chúng tạo nên rất nhiều tri giác sai lầm. Chúng ta cần phải nhìn sâu để nhận diện được những ước muốn như thế phát xuất từ những nỗi sợ hãi, lo lắng, giận hờn, nghi kỵ... trong ta.

  Tất Đạt Đa cũng được hun đúc bởi một ước muốn, một tâm nguyện. Thái tử nhìn thấy những nỗi đau khổ trong vương quốc và ngài hiểu được rằng sức mạnh chính trị không đủ để giải quyết những nỗi đau khổ đó. Chúng ta gọi ước muốn đó là tâm giác ngộ hay sơ tâm. Chúng ta nên có những ước muốn mạnh mẽ để duy trì sơ tâm của chúng ta. Chính tâm giác ngộ đem lại cho ta sức mạnh và năng lượng để tiếp tục thực tập.

  Loại thức ăn thứ hai là thức thực. Đây là nguồn năng lượng tập thể hay tâm thức tập thể. Những cá nhân trong cùng một nhóm có khuynh hướng tạo ra cùng một loại năng lượng. Khi chúng ta đến với nhau để thực tập niệm, định và từ bi là chúng ta cùng nhau chế tác ra nguồn năng lượng hiền thiện tập thể, có công năng nuôi dưỡng và trị liệu. Cho nên xây dựng tăng thân sẽ mang lại sự trị liệu rất lớn lao cho thế giới.

  Nếu ta ở trong một nhóm người đang giận dữ thì năng lượng tiêu cực của họ sẽ đi vào ta. Ban đầu có thể ta không giống như họ. Nhưng nếu ta ở đủ lâu, dần dần năng lượng tập thể của nhóm người đó sẽ đi vào ta, đến một lúc nào đó ta sẽ giống họ dù có khi ta không nhận ra được điều này. Cho nên thấy được mình có đang ở trong một môi trường tốt hay không là điều vô cùng quan trọng. Chúng ta cần một môi trường an toàn có năng lượng tập thể lành mạnh cho chính bản thân và cho con cháu chúng ta.

  Loại thức ăn thứ ba là xúc thực, là những gì chúng ta tiêu thụ qua mắt, tai, mũi, thân, ý như âm nhạc, phim ảnh, quảng cáo, các cuộc chuyện trò,... Khi chúng ta đọc một bài báo, xem một bộ phim, hay một chương trình có chứa đựng bạo động và giận dữ thì những bạo động và giận dữ đó sẽ đi vào ta. Vì vậy ta phải chọn lọc những gì ta tiêu thụ và những gì không nên tiêu thụ.

  Các nhà tâm lý trị liệu cần phải rất thận trọng. Vì nhà tâm lý trị liệu phải lắng nghe rất nhiều loại đau khổ và giận dữ của người khác. Nên ta cần phải thực tập vững mạnh để duy trì sức khỏe và sự vững chãi của ta, nếu không ta sẽ lâm bệnh. Ta đang cố gắng giúp đỡ nhưng có thể ta bị những nguồn năng lượng tiêu cực của khách hàng hằng ngày xâm chiếm ta.  Mỗi nhà tâm lý trị liệu đều phải xây dựng một tăng thân. Có tăng thân, ta được bảo hộ, được nuôi dưỡng mỗi khi ta đến với tăng thân. Nếu không, ta sẽ bị kiệt sức và ta không thể tiếp tục giúp đời được.

  Bụt đã dành rất nhiều thì giờ cho việc xây dựng tăng thân, và chúng ta cũng nên làm như vậy. Chúng ta có thể tìm những yếu tố chung quanh ta để xây dựng tăng thân, để được bảo hộ, để được nuôi dưỡng và duy trì sự thực tập của mình. Nếu không, sau vài tháng chúng ta sẽ đánh mất sự thực tập. Và xúc thực, những thứ mà chúng ta tiêu thụ qua mắt, tai, mũi, thân, ý sẽ thẩm thấu vào ta. Tiêu thụ có chánh niệm là sự thực tập bảo hộ cho tự thân, cho gia đình và cho xã hội. Đó là con đường trị liệu, ngăn chặn sự tàn phá hành tinh xanh của chúng ta.

  Loại thức ăn thứ tư là đoàn thực, là thức ăn chúng ta đưa vào cơ thể bằng đường miệng. Chúng ta chỉ nên ăn những loại thức ăn có tác dụng đem lại an lạc, hòa bình và sức khỏe cho thân tâm. Chúng ta ăn như thế nào để có thể duy trì lòng từ bi trong trái tim mình. Làm được điều này, chúng ta có thể cứu lấy hành tinh xanh của chúng ta và đảm bảo cho con cháu chúng ta một tương lai tươi sáng.

  Hơi thở thứ mười lăm: quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.

  " Thở vào, tôi quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp.

    Thở ra, tôi quán chiếu về bản chất không sinh diệt của vạn pháp."

  Không sinh diệt là tự thân của thực tại, là sự đoạn diệt hết tất cả các ý niệm, là niết bàn ( Nirvana). Tự thân của thực tại vượt thoát tất cả mọi ý niệm, bao gồm ý niệm sinh diệt, có không. Đây chính là trái tim của thiền tập, nỗ lực sau cùng để đạt đến tự do. Quán chiếu về vô thường, vô ngã, tánh không, không sinh không diệt có thể đưa đến sự giải thoát. Ý niệm về sinh diệt có thể là nguồn gốc của những phiền não, khổ đau, lo lắng và sợ hãi. Chỉ có tuệ giác không sinh không diệt mới giúp ta vượt thoát khỏi lo âu và sợ hãi.

  Hơi thở thứ mười sáu: quán chiếu về sự buông bỏ.

  Thở ra, tôi quán chiếu về sự buông bỏ."

  Hơi thở này giúp chúng ta buông bỏ tất cả mọi ý niệm để đạt được tự do giải thoát. Buông bỏ sẽ giúp ta tiếp xúc được với bản chất chân thực của thực tại. Tuệ giác thâm sâu này sẽ giúp ta thoát khỏi sự sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng. Từ Niết bàn có nghĩa là dập tắt. Niết bàn cũng không phải là điều mà chúng ta đạt được ở tương lai. Niết bàn là tự thân của thực tại. Niết bàn có mặt ngay bây giờ và ở đây.

  Con sóng trên đại dương được hình thành từ nước, nhưng đôi khi nó quên nó là nước. Con sóng thì bắt đầu, có kết thúc, có lên, có xuống, có thể cao hơn, thấp hơn, mạnh hơn hay yếu hơn những con sóng khác. Nhưng nếu con sóng kia bị kẹt vào những ý niệm về bắt đầu - kết thúc, lên xuống hay mạnh hơn - yếu hơn những cơn sóng khác thì nó sẽ đau khổ. Nếu nó biết nó đã là nước rồi thì tình trạng sẽ thay đổi ngay tức khắc. Biết mình là nước, con sóng không còn tâm phân biệt bắt đầu kết thúc, lên xuống hay mạnh yếu nữa. Đi lên nó cũng vui mà đi xuống nó cũng vui, là con sóng này nó cũng vui mà con sóng kia nó cũng vui, không phân biệt kỳ thị, không sợ hãi. Nó không cần phải đi tìm nước. Vì nó đã là nước ngay trong giây phút hiện tại rồi.

  Tự tánh của chúng ta là không khởi đầu, không kết thúc, không sinh, không diệt. Nếu chúng ta biết cách tiếp xúc với tự tánh của chúng ta, chúng ta sẽ không sợ hãi, giận dữ, tuyệt vọng nữa. Tự tánh của chúng ta chính là tự tánh niết bàn. Từ vô thỉ chúng ta đã là niết bàn rồi.

  Chúng ta thường nghĩ rằng " chết " là từ cái có thình lình chúng ta trở thành cái không, từ một người đột nhiên ta biến mất không còn là ai cả. Chúng ta nên biết rằng một đám mây không thể nào chết được. Đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, thành dòng sông, thành tách trà hay ly nước ép trái cây ta uống hằng ngày. Đám mây không thể chết được. Tự tánh của đám mây là tự tánh không sinh không diệt. Vì vậy, nếu người thân của chúng ta vừa mới qua đời, chúng ta phải tìm họ trong những hình hài biểu hiện mới. Người đó không thể chết được, người đó tiếp tục trong nhiều hình thái khác nhau. Nhìn bằng con mắt của Bụt, chúng ta có thể nhận ra người đó ở trong ta và chung quanh ta. " Em ơi, tôi biết em vẫn ở đây trong những hình thái mới".

  Trước khi sinh ra, chúng ta đã tồn tại trong tử cung của mẹ rồi. Trước đó nữa, chúng ta cũng đã tồn tại một nửa trong cha ta và một nửa trong mẹ ta. Không có một cái gì từ không mà trở thành có. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta luôn có trong hình thức này hay hình thức khác. Bản chất của chúng ta là tự tánh không sinh không diệt. Niết bàn có nghĩa là sự đoạn diệt tất cả mọi ý niệm, bao gồm ý niệm về sinh diệt, có không. Hơi thở thứ mười sáu này giúp ta buông bỏ tất cả mọi ý niệm để đạt được tự do giải thoát hoàn toàn.

Trích từ sách Thiền sư và em bé 5 tuổi của Thầy Thích Nhất Hạnh

Thiền sư và em bé 5 tuổi

 # Sách thiền sư và em bé 5 tuổi, #sách chữa lành, # Chữa lành em bé bên trong, # healing, # Chữa lành tổn thương, # Chữa lành trầm cảm, # Sách Thích Nhất Hạnh, # Tổn thương cần chữa lành, # Chữa lành tâm hồn. # lắng nghe, # thiền tập.